Đặc tính của composite

Thời gian đăng: 24-08-2014 10:15:29

| Danh mục: Bình Yên Company

Để có tuổi thọ lâm sàng cao, composite phải có được những đặc tính nhất định. Những đặc tính lâm sàng, đặc tính vật lí, cơ học quan trọng của composite sẽ được đề cập đến trong phần tới đây.

Nhằm giúp khách hàng hiểu rõ được các đặc tính ưu việt mà vật liệu làm từ sản phẩm composite, hôm nay Bắc Thành sẽ giới thiệu cho các bạn một số đặc tính cơ bản.

Để có tuổi thọ lâm sàng cao, composite phải có được những đặc tính nhất định. Những đặc tính lâm sàng, đặc tính vật lí, cơ học quan trọng của composite sẽ được đề cập đến trong phần tới đây. Những đặc tính composite được lựa chọn trong nhiều loại composite được liệt kê trong Bảng 9-3. Những giá trị của đặc tính đối với chất hàn polyme và vật liệu phục hồi dựa theo tiêu chuẩn ISO 4049 (ANSI/ADA No.27)

Khái quát:

1. Tính chất vật lí:


Thời gian làm việc và thời gian đông kết: Đối với composite quang trùng hợp, sự đông cứng được coi là “theo yêu cầu”. Sự trùng hợp bắt đầu xảy ra ngay khi composite được chiếu đèn quang trùng hợp. Sự đông cứng diễn ra trong vài giây sau khi chiếu đèn. Mặc dù mối hàn composite có vẻ cứng và hoàn toàn đông cứng sau khi chiếu đèn quang trùng hợp, nhưng phản ứng đông kết tiếp diễn trong khoảng thời gian 24h. Tất cả các chất kết dính không no có C liên kết đôi nguồn gốc Methacrylate không phản ứng, báo cáo của các nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 25% vẫn không phản ứng trong khối chất hàn. Một lớp mỏng vật liệu không trùng hợp, yếm khí vẫn còn trên bề mặt của lớp đã trùng hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khoảng trống giữa các lớp hàn tăng dần về sau. Việc che chắn bề mặt xung quanh khối chất hàn bằng 1 matrix trong suốt là rất hữu ích để giảm thiểu tối đa số lượng resin không trùng hợp trong lần hàn cuối cùng. Mặc dù đối với một số composite, đặc tính vật lí cuối cùng có thể không đạt được trong vòng 24h kể từ khi phản ứng bắt đầu. Độ cứng cơ học đạt đủ ngay sau khi đông cứng nên có thể kết thúc việc hàn sau đó đánh bóng bằng các chất đánh bóng, lúc này mối hàn đã có khả năng thực hiện chức năng của nó.

Đối với hầu hết các loại composite được trùng hợp bằng ánh sáng khả kiến, các nguồn sáng hoạt động có thể làm khởi động quá trình đông cứng sớm hơn nếu composite còn lại trên tấm trộn chất hàn không được che chắn. Trong khoảng 60-90s sau khi tiếp xúc với ánh sáng xung quanh, bề mặt của khối composite có thể mất khả năng chảy dễ dàng trên răng, và công việc tiếp theo với vật liệu sẽ trở nên khó khăn. Paste đã được đánh có thể được bao bọc bằng tấm chắn màu vàng hoặc đục để tránh chất hàn tiếp xúc sớm với ánh sáng.

Thời gian đông cứng đối với những composite hóa trùng hợp là từ 3-5 phút. Khoảng thời gian đông cứng ngắn này đạt được nhờ kiểm soát nồng độ của chất xúc tác và chất hoạt hóa.

Sự co và nén trùng hợp
Như đã được giải thích ở phần “Phản ứng trùng hợp”, tất cả các composite đều co ngót trong quá trình đông cứng. Giá trị co hụt điển hình được liệt kê ở Bảng 9-3. Sự co hụt thể tích xảy ra trong quá trình chất hàn đông cứng cho tác dụng ứng suất khoảng 13 MPa giữa lớp composite và cấu trúc của răng. Lực này làm biến dạng nghiêm trọng kết dính giữa bề mặt composite và răng dẫn đến những kẽ hở tạo điều kiện cho sự xâm nhập của nước bọt và vi khuẩn, từ đó có thể gây ra sâu tái phát hoặc đổi màu rìa lỗ hàn. Lực căng này có thể lớn hơn sức bền của men răng và gây ra những vết rạn hoặc gãy men răng dọc theo bề mặt tiếp xúc giữa composite và răng. Do sự tăng lên của lực gây co phụ thuộc vào trạng thái căng gây co ngót thể tích và độ cứng của composite tại thời điểm co ngót nên composite ít co có thể gây ra sức căng lớn nếu composite đó có suất đàn hồi cao.

Việc đưa chất hàn composite vào từng lớp 2mm một và polime hóa mỗi lớp một cách độc lập có thể giảm ảnh hưởng thực của sự co ngót trùng hợp. Ảnh hưởng thực ít hơn bởi vì có sự co ngót ít hơn ở lớp composite mỏng trước khi thêm tiếp vật liệu vào. Một bài báo gần đây đã xem xét lại những đặc tính đạt được trong điều kiện thí nghiệm và đặc tính lâm sàng của một vài loại composite độ có ứng suất căng, co thấp. Hầu hết trong số đó là những composite phổ biến trừ hai sản phẩm được miêu tả là chảy được. Giá trị co ngót phụ thuộc vào cách thức sử dụng. Co ngót thể tích trùng hợp đối với composite phổ thông có độ co thấp được đo bằng tỉ trọng kế rất khác nhau từ 0.9% đến 1.8%, trái lại giá trị đó của composite lỏng độ co thấp là từ 2.4-2.5%. Khi sử dụng ACTA linometer, giá trị đo được từ 1.0% đến 1.4% và 2.6% đến 2.9% cho riêng từng loại. Sức căng trùng hợp là từ 1.2-1.6 Mpa. Để so sánh, composite phổ thông truyền thống được ghi nhận có sức căng trùng hợp trong khoảng 0.8-2.4 Mpa, còn loại lỏng có giá trị căng từ 1.3%-3.2%.

dac-tinh-composite
tinh-chat-composite

 

 

2. Đặc tính liên quan đến nhiệt độ:


Composite có hệ số giãn nở nhiệt tuyến tính (α) dao động từ 25- 28×10-6/oC đối với composite hạt mịn, và từ 55-68×10-6/oC đối với composite hạt vi thể. Giá trị α đối với composite thấp hơn giá trị trung bình α của các thành phần được thêm vào nó, tuy nhiên, giá trị này lại cao hơn α của ngà răng (8.3×10-6/oC) và men răng (11.4×10-6/oC). Giá trị này, đối với composite vi thể, càng cao liên quan chủ yếu đến sự hiện diện của số lượng polyme càng lớn.

Sự giãn vì nhiệt của composite gây ra thêm một sức căng lên thành phần liên kết với cấu trúc răng, và sẽ làm trầm trọng hơn tác hại của sự co ngót trùng hợp. Những thay đổi nhiệt độ cũng có chu kì trong tự nhiên và mặc dù việc hàn hoàn thiện có thể không bao giờ đạt được sự cân bằng nhiệt độ trong suốt quá trình sử dụng cả kích thích nóng lẫn lạnh, tác động có chu kì có thể dẫn đến sự mỏi, kém bền của vật liệu và kết dính sớm bị hỏng. Khi một kẽ hở hình thành thì sự khác biệt giữa hệ số giãn nở nhiệt của composite và răng có thể cho phép sự thấm qua của dịch miệng.

Tính dẫn nhiệt của composite hạt mịn lớn hơn composite hạt vi thể bởi vì tính dẫn nhiệt của hạt độn vô cơ cao hơn so với mạng lưới polyme. Tuy nhiên, đối với nhiệt độ cao trong thời gian ngắn, composite không thay đổi nhiệt độ nhanh bằng cấu trúc của răng, và sự khác biệt này không biểu hiện các vấn đề lâm sàng.

3. Sự thấm hút nước:


Sự thấm hút nước của composite có hạt lai (5-17 microgram/mm3) thấp hơn composite có hạt vi thể (26-30 microgram/mm3) bởi vì sự phân chia thể tích của polyme trong composite với hạt độn vi thể là thấp hơn. Chất lượng và sự ổn định của tác nhân gắn Silane ( hợp chất của Silicon và hydro, cấu trúc giống hydrocarbon bão hòa nhưng kém bền hơn – ND) rất quan trọng trong việc tối thiểu sự hư hỏng của mối liên kết giữa chất hàn và polime, cũng như giảm thiểu sự thấm hút nước. Độ giãn nở liên quan đến sự hấp thu nước từ dịch miệng có thể làm giảm sức căng trùng hợp nhưng sự thấm hút nước là một quá trình chậm nếu so sánh với sự tiến triển của co ngót và sức căng trùng hợp. Đo bằng ẩm kế, sự giãn nở bắt đầu 15 phút sau khi quá trình trùng hợp khởi động, hầu hết các loại resin đều cần 7 ngày để đạt được sự ổn định, cân bằng và khoảng 4 ngày để biểu hiện phần lớn sự giãn nở. Vì composite hạt mịn có giá trị thấm hút nước thấp hơn composite hạt vi thể nên chúng tỏ ra ít nở hơn khi tiếp xúc với nước.

4. Màu sắc và độ bền màu sắc:


Màu sắc và sự pha trộn màu cho phù hợp với lâm sàng của vật liệu phục hồi thẩm mỹ rất quan trọng. Đặc điểm của màu sắc được trình bày ở Chương 4, và những nguyên tắc này có thể áp dụng chính xác cho composite nhằm xác định phổ màu thích hợp cho áp dụng lâm sàng. Những phổ màu phổ biến thay đổi theo màu giữa các sản phẩm hiện có trên thị trường. Composite hiện đại ngày nay thường được cung cấp ở nhiều độ đục khác nhau bới các nhà sản xuất. Điều này cho phép sản phẩm có thẩm mỹ tốt hơn sử dụng nhiều phổ màu có độ đục khác nhau để đặt mối hàn.

Sự thay đổi màu sắc và mất sự phù hợp phổ màu với cấu trúc răng xung quanh là những lí do cho việc thay thế chất hàn. Những đứt gãy trong mạng lưới polyme và sự kết dính cục bộ của hạt độn với resin như là kết quả của sự thủy phân làm tăng độ đục và thay đổi “diện mạo” mối hàn. Sự đổi màu cũng có thể xảy ra do sự oxi hóa và là kết quả từ quá trình trao đổi nước trong mạng lưới polyme và tác động của nó với những nơi polyme không phản ứng và chất hoạt hóa hoặc chất xúc tác không được sử dụng.

Sự ổn định màu sắc của composite hiện tại đang được nghiên cứu bằng việc gây lão hóa nhân tạo trong phòng có thể hiệu chỉnh môi trường ( tiếp xúc với tia UV, nhiệt độ được nâng lên 70oC) và bằng cách nhúng trong các chất nhuộm màu khác nhau( café, trà, nước ép hoa quả, rượu vang, dầu vừng) . Như đã trình bày trong Bảng 9-3, composite chống lại sự thay đổi màu sắc gây ra bởi sự oxi hóa, nhưng lại nhạy cảm với nhuộm màu. 

Mặc dù composite tận dụng được những đặc tính được lựa chọn của mỗi vật liệu thành phần, nhưng đặc tính cơ học và vật lí của composite khác so với những đặc tính của những pha riêng lẻ.

Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến đặc tính của composite bao gồm:

- Trạng thái vật chất của pha thứ 2 (pha phân rã)

- Dạng ngoài của pha thứ 2

- Sự định hướng của pha thứ 2

- Sự hợp thành của pha phân rã và pha tiếp theo

- Tỉ lệ giữa các pha

- Sự kết dính của các pha

Ví dụ những đặc tính có thể được thay đổi (cải tiến nếu composite được phát triển thông minh):

- Độ cứng

- Độ bền

- Tính chống nứt vỡ

- Tính chống hao mòn

- Sự nở vì nhiệt

- Chống mài mòn và chống hóa học

Chi tiết: http://nhuafrp.vn/ 

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ SẢN XUẤT
BÌNH YÊN COMPOSITE
P 10.08 Tân Việt Tower - Hoài Đức - Hà Nội
247A Phố Thúy Lĩnh - P Lĩnh Nam - Q Hoàng Mai - Hà Nội
8B Lương Định Của - Bình Khánh - Quận 2 -Hồ Chí Minh
Nhà máy Xã Đức Thượng - Hoài Đức - Hà Nội

- Tư vấn kỹ thuật và tham gia dự thầu 0976.507.568  Mr: Ninh

-  Tư vấn bán lẻ. 0976.507.568 Email: hoangninh@nhuafrp.vn

Email: binhyenfrp@gmail.com | Website: http://nhuafrp.vn/

Bản quyền thuộc về Bình Yên Composite xin ghi rõ nguồn khi bạn phát hành nội dung từ trang web này.

Thung cho hang | Bon chua hoa chat | boc phu composite

DMCA.com Protection Status